bieu cam nghi luan que huong thon vi da ngam trang canh pac bo

13 Kwiecień, 2018 - 06:22

soạn bài luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận phân tích bài thơ quê hương phân tích khổ 1 đây thôn vĩ dạ phân tích bài thơ đi đường tình yêu thiên nhiên của bác trong bài ngắm trăng và tức cảnh pác bó 

soạn bài luyện tập đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận 
phân tích bài thơ quê hương 

Trên bầu trời, thơ mới Hàn Mạc Tử nổi lên như 1 ngôi sao chói lọi thần hiệu. Thơ ông mang diện mạo khôn xiết phức tạp và bí ẩn bởi sự đan xen của cả những gì bản quen thuộc thanh khiết, thiêng liêng nhất; cả những gì ghê rợn, ma quái, cuồng loàn nhất. ngoài ra đằng sau thế giới hình ảnh phức tạp kia vẫn hiện rõ một người tràn ngập lòng yêu sống. Ngay cả lúc linh hồn muốn rời bỏ dương thế để bay lên cõi siêu tự nhiên thì người ta vẫn thấy rõ một ái tình tới đau đớn hướng về thế cuộc cõi tục. Nhưng đến Hàn Mạc Tử chúng ta chẳng thể ko nhớ đến “ Đây thôn Vĩ Dạ” ( Rút trong khoảng tập “đau thương”)

Thân bài
Xuất xứ: Theo lời của bạn bè và người thân nhà thơ kể lại lúc khiến cho ở sở lạc điền ở Quảng Ninh, Hàn Mạc Tử đem lòng yêu cô gái tên là HTKC mà chúng ta vẫn quen gọi là HC. Đây là cô gái con nhà viên chức lại với vẻ đẹp dịu dàng kín đáo kiểu chân quê. Thực ra đây chỉ là mối tình đơn phương từ phía Hàn Mạc Tử. khi HC theo cha về Vĩ Dạ, Hàn Mạc Tử coi sự kiện này như nàng đi lấy chồng và đã gửi trọn lòng của mình trong tập “ Gái quê” có các vần thơ:

“ ngày mai tôi bỏ khiến cho thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết mơ ước
Tôi sẽ đi tậu mỏi đá trắng
Ngồi lên để tha mẫu hồn thơ”
lúc thi sĩ mắc bệnh nan y, ông đã nhận được tấm thiệp kèm lời hỏi thăm của HC. thi sĩ đã viết bài thơ này để tặng cho cô gái
một bài thơ chữ tình bao giờ cũng có một giọng điệu đặc biệt. Ở đây thôn Vĩ Dạ ngừng thi côngĐây là giọng điệu khẩn thiết. tha thiết với người con gái anh thầm yêu, với cảnh Huế, người Huế và trên hết mang thế cuộc. những điều này đã biến ngôn ngữ nội tâm riêng tây của Hàn Mạc Tử phát triển thành tiếng lòng muôn đời của người trong cuộc đời. Điều này giải thích vì sao, sắp 80 năm qua Đây thôn Vĩ Dạ luôn nằm trong tâm hồn của các thế hệ yêu thơ.
Khổ thơ được mở màn bằng những câu hỏi. Đây là thắc mắc mà nhà thơ hỏi chính mình, hỏi để khẳng định: về Vĩ Dạ, thăm lại chốn cũ người xưa là điều vô cùng thú vị. nghi vấn mang sắc thái lời mời, lời trách,lời kể nhở trong câu hỏi, ta bắt gặp chất giọng ngọt ngào của xứ Huế được khắc họa rất thành công bởi câu thơ sở hữu 6/7 tiếng rằng thanh bằng. Câu thơ đưa ta về mang 1 địa chỉ thân thương: Vĩ Dạ. ngừng thi côngĐây là một làng nhỏ nằm ở bờ Nam sông Hương bí quyết tư tâm thành phố Huế bằng những hình ảnh bách bộ. trong khoảng xưa Vĩ Dạ đã lừng danh sở hữu vẻ đẹp trầm lắng tao nhã của kiến trúc nhà vườn – các ngôi nhà xinh xinh như những bài thơ tự tuyệt ẩn hiện trong màu xanh lá ko phải tự nhiên, VĨ Dạ là nơi những quan chức Huế trước đây chọn khiến nơi ở sau lúc về hưu, là nơi những văn nhân mặc khách thường tiến thoái.
Ba câu thơ tiếp theo tụ hội khắc họa cảnh vườn – nét đặc sắc riêng của không gian Vĩ Dạ:
“ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”
Câu thơ với hai chứ “nắng”, chữ “nắng” sau bổ sung và làm cho rõ nét nghĩa cho chữ nắng trước: Nắng mới lên là nắng mới bắt đầu cho một ngày. Ở thời điểm chậm triển khai, những sắc xanh vừa mới được hồi sinh bóng tối sắp có ánh nắng mới lên của rạng đông thanh tân khôi, gợi nói lại các câu thơ của Tố Hữu:
Nắng xuân tưới trên thân dừa xanh dịu
Tàu cau non thập thò muôn gợn xanh
Ánh nhởn nha đùa quả non trắng phếu
Và chảy tan qua kẽ lá cành chanh
Hàn Mạc Tử đã viết 1 câu thơ gợi ấn tượng về sự tinh khôi với vườn như
“Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”
Chữ “mướt” nhắc lên tình trạng óng ả mượt mà của cây lá đang độ phát triển non tơ. một trong khoảng “quá” ở liền Đó đã đẩy cảnh của nhân vật trữ tình lên đến độ cao nhất của cao trào gợi vườn thôn Vĩ Dạ như một viên ngọc không chỉ dời dợi sắc xanh mà còn tỏa vào ko gian các sắc xanh.

“Lá trúc……”

Nét tài của thi sĩ đã gợi ra vẻ đẹp kết hợp gợi cảm: lá trúc (thanh), mặt chữ điền (vuông vức). Câu thơ còn gợi ra một quan điểm về cảnh đẹp đậm chất Á Đông: cảnh đẹp là sự phối hợp giữa người và bỗng dưng. “Mặt chữ điền” là 1 biểu trưng nhân từ với từ thủa ca dao:

“ Mặt em vuông tượng chữ điền
Da em thì trắng áo đen mặc ngoài
Lòng em với đất với trời
mang câu nhân ngãi có lời thủy chung
Anh thương em ko thương bạc thương tiền
Mà anh thương loại khuôn mặt chữ điền của em”
Ba câu thơ, mỗi câu là 1 chi tiết trong vườn. rất nhiều hợp lại, ánh lên vẻ bình dị, cao sang, tươi tắn đầy sức sống
Bức tranh cảnh vật đó chỉ với thể là sản phẩm của 1 tâm hồn yêu đời khát khao sống. vậy mà khi viết những câu thơ này Hàn Mạc Tử đang mắc bệnh nan y, cảnh vật vô cùng bi thương
“ Tôi đang còn đây hay ở đâu
ai đem tôi bỏ dưới trời sâu”
Thậm chí, Hàn Mạc Tử còn ví mình là cung nga bị chẳng chú ý
“ Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa
Trời ở trong đây chẳng có mùa
Chẳng có niềm trăng hay ý nhạc
mang những cung nhân nhớ thương vua”
Tấm thiếp và lời hỏi thăm của Hàn Mạc Tử đích thực là thuốc tiên dược để kẻ xấu số được nhìn đời bằng con mắt yêu đời khiến cho cái gì cũng biếc rờn, tươi non tràn ngập sinh khí. Vĩ Dạ phát triển thành dấu hiệu của thế cục cõi trần ấm lòng tình người về Vĩ Dạ là về với thế cuộc
Ẩn đựng bên trong bức tranh phong cảnh tươi đẹp là nỗi buồn man. Đầu từ “ai” (trong “vườn ai”) gợi 1 vẻ đẹp quá tầm tay, hành trình về Vĩ Dạ trở nên hành trình chẳng thể thực hiện được.
Tiểu kết: Của nhận và sắp có tình người với phần lớn sự khao khát trân trọng. ngừng thi côngĐây chính là giá trị nhân văn thứ nhất của bài thơ này
Khổ 2:
tiếp nối mạch xúc cảm của khổ 1, dường như ở khổ thơ thứ 2 nhà thơ dành để đặc tả cảnh sông nước mây trôi xứ Huế:
“ Gió theo lối gió, mây đường mây
mẫu …..
Cảnh sông nước sở hữu nỗi buồn li tán. gió mây đôi ngả. nhà thơ lãng mạn vốn mẫn cảm mang sự chia ly Hàn Mạc Tử trong tình cảnh riêng của mình đã thấy: sự chia ly can thiệp vào các thứ vốn chẳng thể chia li. Câu thơ đầu cho thấy: chữ “gió”đóng khung gió, hai chữ “ mây” đóng sườn mây, giữa gió và mây là 2 sự chia lìa cách trở. cái nước sông Hương yên ả từng đi vào câu thơ hết mực thực lòng của Tố Hữu:
“Hương Giang ơi! mẫu sông êm
Quả tim ta vẫn sớm hôm tự tình”
Giờ đây chỉ còn cái nước buồn thiu, nỗi buồn nhẹ nhàng sâu lắng, yên ổn vào tâm não và chứa cả nỗi ngán ngẩm. Hoa bắp với màu sắc u ám và động thái lay, gợi sự sống yếu ớt càng góp thêm vào loại u buồn sông nước Cõi nhân gian ăm ắp sự sống, biêng biếc sắc màu đã nhường nhịn chỗ cho một vũ trụ lạc lõng, hiu hắt, vô sai, vẽ của tâm cảnh mờ ám u buồn : thân bệnh – tâm bệnh. Đây chính là thực trạng thân phận của thi sĩ. khi nghệ sĩ lang man buồn đời mà ko chán đời: ko tậu thấy sự đồng điệu trong cõi thực, thi sĩ đi tậu sự kết hợp trong cõi mộng:
“Thuyền ai chở bến sông trăng chậm triển khai
sở hữu chở trăng về kịp tối nay”
những chi tiết thực ( thuyền sông, trăng) đã góp phần tạo nên cảnh ảo: một con thuyền 1 loại sông bọc trong trăng, vạn vật như rũ bỏ hết màu sắc tuyến phố nét phàm è để thấm đẫm ánh trăng. Nó gợi cho ta nhớ tới câu thơ hết mực sung túc của Nguyễn Công Trứ:
“Gió trăng cất 1 thuyền đầy
Của kho bất tận biết ngày nào rơi”
Và người đọc cũng ko quên trong thơ Hàn Mạc Tử, trang là hình tượng luôn trở đi trở lại, là máu giết là tài sản của thi nhân. nhà thơ chẳng đã từng giao bán

ai sắm trăng tôi bán trăng cho

tuy nhiên bên trong bức tranh phong cảnh rất mộng tưởng lại đựng cất những từ ngữ cụ thể, mộc mạc: kịptối nay. “Tối nay” như thu bớt quỹ thời kì cho thấy một thực tiễn ngắn ngủi. Chữ “kịp” gợi cảm giác khắc khoải âu lo vì sợ muộn. Câu thơ thấm đẫm cảm giác mỏng manh, chứa đầy linh cảm về sự mất mát lỡ làng
Khổ thơ cho thấy cảnh chuyển từ rất xa rất nhanh- 1 đặc điểm của thơ Hàn Mạc Tử
Dẫu cuộc đời lìa bỏ phũ phàng, vẫn níu kéo tha thiết thế cuộc, chậm triển khai chính là thông điệp nhân văn của khổ thơ này.

Khổ 3
những người con gái trong thơ Hàn Mạc Tử bao giờ cũng hiện thân cho vẻ đẹp tột cùng của cõi trần. Ở khổ thơ này cũng tập kết vào hình ảnh của thiếu nữ. Hình ảnh gần gũi thân thương của “em” đã trở nên nhân cách, xa vời, hư ảo. Để rồi gần như chỉ còn lại trong:

Áo em trắng quá nhìn ko ra

Câu thơ như đã dẫn tới những cách thức hiểu khác nhau: do lần vào sương khói, chậm tiến độ là phương pháp cực tả sắc trắng ở mức độ tuyệt đối, cùng tận. cách thức hiểu thứ 2 với vẻ hợp lý hơn cả. Hàn Mạc Tử vốn sành tả sắc trắng sở hữu 1 cảm quan đặc trưng. Trước bắt chân trằn của cô thiếu nữ, thi sĩ từng thấy 1 sắc trắng chạy dọc sống lưng:

Ống quần vo xắn lên đầu gối
Da giết thịt, trời ơi! Trắng rợn người
Trong “Mùa xuân chín” là một sắc trắng đến nhức mắt:
Chị đấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang
thi sĩ quay trở lại với lòng mình
“ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
người nào biết….
Trong mạch văn bản, “ở đây” không phải là Huế hay Quy Nhơn mà là đề cập đang với sự tái hiện của anh, nơi anh đang sống trong sự chia ly cách thức trở, để hướng về nơi đó, cõi cõi tục ăm ắp sự sống, biêng biếc sắc màu, ấm lòng tình người mà còn ý thức được mình chỉ là kẻ đứng ngoài trong một bài thơ khác nhà thơ đã viết:
Anh đứng bí quyết xa ngàn toàn cầu
im nhìn trong mộng miệng em cười
Em cười anh cũng cười theo nữa
Để nhắn hồn anh đã đến nơi
Giữa anh và nơi đấy là khoảng bí quyết của sương khói: sương khói không gian, thời kì sương khói của mối tình vô vọng. Ở câu thơ cuối hai đại từ “ai” chỉ 2 người trong mối quan hệ mật thiết. tín hiệu tình người mang nhưng chưa đủ để cứu rỗi vong hồn, nhất là những linh hồn xấu số. thi sĩ mong loại tột bậc của tình người: đặm đà. Câu thơ sở hữu chút giận dỗi nhẹ nhõm, sở hữu phủ bóng hiềm nghi và trên hết là sự ghi nhận 1 tấm lòng.

phân tích khổ 1 đây thôn vĩ dạ 
phân tích bài thơ đi đường 
tình yêu thiên nhiên của bác trong bài ngắm trăng và tức cảnh pác bó 

16 Kwiecień, 2018 - 18:41

czesc